|
24 NĂM NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO
CỬ NHÂN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
ĐÀ LẠT
§ GVC. TS. Bùi Văn Hùng
Trưởng khoa Lịch sử
Ngày 27/10/1976, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập Trường Đại học Đà Lạt trên cơ sở tiếp nhận cơ sở vật chất của Viện Đại học Đà Lạt trước 1975, được đào tạo đại học từ niên khóa (1958–1975). Trường Đại học Đà Lạt là 1 trong 4 trường đại học tổng hợp của cả nước. Tuy nhiên, lúc mới thành lập, Trường Đại học Đà Lạt chỉ đào tạo các ngành khoa học cơ bản thuộc khối khoa học tự nhiên, chưa tương xứng với tên gọi, tầm vóc và chức năng đào tạo của một trường đại học tổng hợp của nước ta. Vì vậy, tháng 8 năm 1982, Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp quyết định chuyển Khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên về Trường Đại học Đà Lạt.
Quyết định đúng đắn và quan trọng này của Bộ không những đáp ứng được yêu cầu cấp bách về việc hoàn chỉnh một mô hình đào tạo của một trường đại học tổng hợp mà còn rất phù hợp với yêu cầu đào tạo và xây dựng đội ngũ các nhà khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội – nhân văn vùng Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ và cả nước. Các cán bộ giảng dạy của Khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên được Nhà trường biên chế vào các khoa cơ bản và thành lập Khoa Văn Sử Trường Đại học Đà Lạt. Hai năm sau – năm 1984 ngành Lịch sử bắt đầu tuyển sinh đào tạo. Có thể nói, đây là cột mốc quan trọng trong công tác đào tạo cử nhân lịch sử và ghi dấu ấn về sự trưởng thành của Trường Đại học Đà Lạt chúng ta. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Đại học Đà Lạt hình thành và phát triển, chúng tôi trình bày vấn đề “24 năm nghiên cứu và đào tạo cử nhân lịch sử ở Trường Đại học Đà Lạt” với mong muốn góp thêm tư liệu về một chặng đường xây dựng và phát triển của Khoa Lịch sử nói riêng và Trường Đại học Đà Lạt nói chung.
1. Nghiên cứu và đào tạo cử nhân lịch sử – chặng đường 24 năm
Trên cơ sở tiếp nhận Khoa Sư phạm từ Trường Đại học Tây Nguyên, Ban Giám hiệu Trường Đại học Đà Lạt đề nghị Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) thành lập Khoa Văn – Sử, để chuẩn bị cho việc đào tạo Lịch sử vào năm 1984.
Những cán bộ giảng dạy ngành lịch sử từ Trường Đại học Tây Nguyên về Trường Đại học Đà Lạt là các thầy cô: Lê Đình Bá, Nguyễn Cảnh Huệ, Nguyễn Thông, Cao Thế Trình, Hoàng Thị Như Ý, Thu Nhung Mlô cùng với các thầy Nguyễn Khắc Tụng, Lê Hồng Bình từ Hà Nội chuyển tới, ngoài ra có thầy Nguyễn Hồng Giáp, cán bộ cũ của Viện Đại học Đà Lạt là đội ngũ cán bộ giảng dạy đầu tiên có mặt tại Khoa Lịch sử.
Trong những năm 1986, 1987, Khoa Lịch sử được bổ sung thêm một số cán bộ trẻ tốt nghiệp từ Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh là các thầy: Trần Văn Bảo, Nguyễn Công Chất, Lê Minh Chiến, Bùi Văn Hùng.
Năm 1991, trường thành lập Khoa Khoa học xã hội và nhân văn, trong đó Khoa Lịch sử trở thành Ban Lịch sử trực thuộc do PGS. Nguyễn Gia Phu làm Trưởng Ban. Năm 1994, Ngành Việt Nam học do PTS. Cao Thế Trình phụ trách được thành lập trực thuộc Ban Lịch sử. Sau khi Nhà trường giải thể Khoa Khoa học xã hội và nhân văn (1999), Khoa Lịch sử được tái lập do PTS. Cao Thế Trình làm Phó Trưởng Khoa. Năm 2000, TS. Nguyễn Cảnh Huệ (nguyên Phó Trưởng Khoa Khoa học xã hội và nhân văn) được bổ nhiệm làm Trưởng Khoa Lịch sử, TS. Cao Thế Trình là Phó Trưởng Khoa. Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Khoa được bổ sung Võ Tấn Tú, tốt nghiệp khoá 13.
Từ năm 2002, Khoa Lịch sử được Nhà trường cho phép tuyển dụng thêm nhiều cán bộ trẻ từ Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh như: Đinh Tiến Hiếu, Nguyễn Thu Hồng, Nguyễn Văn Bắc, Lê Xuân Hưng và các cán bộ là những sinh viên xuất sắc tốt nghiệp từ Khoa như: Cao Đại Trí, Lê Thị Giang, Mai Minh Nhật, Nguyễn Thị Hà Giang, Trần Thị Hiền. Ths. Trần Văn Bảo làm Trưởng Khoa và Ths. Hoàng Thị Như Ý làm Phó Trưởng Khoa nhiệm kỳ 2003 – 2008. Ngày 9/4/2008, TS. Bùi Văn Hùng làm Trưởng Khoa và ThS. Võ Tấn Tú làm Phó Trưởng Khoa nhiệm kỳ 2008 – 2013.
Hơn 24 năm qua, đội ngũ cán bộ giảng dạy của Khoa Lịch sử được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay, Khoa có 17 cán bộ cơ hữu, trong đó có 1 phó giáo sư tiến sĩ, 2 tiến sĩ, 2 thạc sĩ đang là nghiên cứu sinh, 6 thạc sĩ, 2 học viên cao học, 4 cử nhân và hàng chục giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ là cộng tác viên thường xuyên tham gia vào quá trình giảng dạy và nghiên cứu khoa học của Khoa.
Khoa Lịch sử xin trân trọng ghi nhận công lao to lớn của các thầy cô đã cống hiến cả công sức và trí tuệ cho quá trình xây dựng và trưởng thành của Khoa, đặc biệt là các thầy: Cố PGS. Nguyễn Gia Phu, PGS.TS. Nguyễn Khắc Tụng, TS. Nguyễn Hồng Giáp, GV. Lê Hồng Bình, TS. Thu Nhung Mlô, PGS.TS. Nguyễn Cảnh Huệ.
Song song với quá trình xây dựng và phát triển về đội ngũ cán bộ, bắt đầu từ năm 1984, Trường Đại học Đà Lạt chiêu sinh đào tạo cử nhân sử học khoá đầu tiên (khoá 8). Tổng số sinh viên khoá 8 là 9 người tốt nghiệp vào năm 1988, đã và đang khẳng định mình trong cương vị công tác (trong đó có 1 tiến sĩ).
Từ đó, Nhà trường liên tục tổ chức tuyển sinh đào tạo cử nhân sử học cho các khoá 9 (11 sinh viên), 10 (23 sinh viên) và 11 (21 sinh viên). Tới khoá 12, Nhà trường bắt đầu thử nghiệm tổ chức đào tạo hai giai đoạn, tuyển sinh khoá này được hơn 40 sinh viên văn–sử, học chung giai đoạn 1–hai năm đầu, đến giai đoạn 2 không mở được lớp sử. Những sinh viên của khoá 12 có nguyện vọng được đào tạo cử nhân sử học phải chờ học với K13. Trước tình hình ấy, Nhà trường tiếp tục tuyển sinh theo ngành học từ khoá 13 trở đi. Trong các kỳ tuyển sinh khoá 13, 14, 17, Khoa Lịch sử tiếp tục tổ chức đào tạo được hàng chục cử nhân sử học. Hầu hết số sinh viên tốt nghiệp các khoá này được làm việc đúng chuyên môn ở địa bàn các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên. Một số ít làm việc tại các cơ quan Nhà nước thuộc lĩnh vực chuyên môn gần như công an, tư pháp, báo chí, chính quyền…
Theo chủ trương đổi mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm 1994, Trường Đại học Đà Lạt đào tạo hai giai đoạn theo hệ thống tín chỉ, do đó 2 khoá 18 và 19, Khoa Lịch sử không chiêu sinh được ngành sử mà chỉ chiêu sinh được cho ngành Việt Nam học (có thể xem đây là thời kỳ khủng hoảng về đào tạo của Khoa).
Năm 1996, Khoa Lịch sử bước vào thời kỳ phát triển mới với sự tăng trưởng đột biến về số lượng sinh viên của cả hai ngành Lịch sử và Việt Nam học (Số lượng sinh viên 2 ngành Lịch sử là 81 và Việt Nam học là 71). Kỳ tuyển sinh năm 1997, số lượng sinh viên ngành Lịch sử là 43 và ngành Việt Nam học là 36. Khoá 22, Khoa Lịch sử được Nhà trường cho phép tuyển sinh gần 200 sinh viên, mở đầu cho giai đoạn bùng nổ về quy mô đào tạo của Khoa (bắt đầu từ khoá này, số lượng sinh viên của Khoa liên tục trên 200, có nhiều khoá đạt trên 300 sinh viên (các khoá 24, 25, 26, 27, 28).
Khoa còn tổ chức đào tạo cử nhân sử học hệ tại chức cho các khoá 1985, 1986 và hệ chuyên tu cho các khoá từ 1997 đến nay (tại Đà Lạt, Nha Trang, Đắc Lắk). Nhiều sinh viên của loại hình đào tạo này đã trưởng thành và giữ các cương vị cao của ngành và nhiều lĩnh vực khác (Chủ nhiệm Uỷ ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội – Trương Thị Mai, Chủ nhiệm Khoa Mác - Lênin của Học viện Lục quân – TS. Phạm Hồng Phi).
Từ năm 1995, Trường Đại học Đà Lạt bắt đầu tuyển sinh đào tạo thạc sĩ ngành Lịch sử Việt Nam (khoá IV). Trong số 8 học viên cao học khoá đầu có 4 cán bộ giảng dạy của Khoa thì 2 người đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Nhà nước, 1 người đang chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Nhà nước. Đến nay, hàng chục thạc sĩ sử học đã được đào tạo đang công tác tại Khoa Lịch sử và nhiều cơ quan khác ở Lâm Đồng, các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Đào tạo đại học và sau đại học gắn bó chặt chẽ với hoạt động nghiên cứu khoa học. Nhiều cán bộ của Khoa đã chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp Tỉnh, cấp Trường, đăng ký và thực hiện đề tài theo chương trình nghiên cứu của các dự án nước ngoài; hướng dẫn hàng chục luận án thạc sĩ, hàng trăm khoá luận tốt nghiệp đại học; biên soạn hầu hết bài giảng, giáo trình theo chương trình đào tạo của Khoa. Hàng chục bài báo khoa học của các cán bộ giảng dạy Khoa Lịch sử đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành như Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Đông Nam Á… và trong Thông báo khoa học của Trường Đại học Đà Lạt. Hàng năm, nhiều cán bộ Khoa được mời tham dự các cuộc hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
Sinh hoạt học thuật của Khoa không ngừng được tăng cường và mở rộng cả về nội dung, phạm vi và hình thức tổ chức nhằm thu hút các nhà khoa học, giảng viên và sinh viên tham gia. Trong các buổi toạ đàm khoa học, hội thảo khoa học sinh viên, bảo vệ luận văn tốt nghiệp… sinh viên được tập dượt nghiên cứu và giải quyết các vấn đề khoa học.
Nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo, Khoa đã thực hiện đổi mới cả về nội dung chương trình và phương pháp đào tạo theo quy định của Trường và Bộ. Nhờ đó, chất lượng đào tạo của Khoa ngày càng được cải thiện và nâng cao, tạo ra sức thu hút một số lượng lớn thí sinh đăng ký dự thi vào Khoa.
Hiện nay, Khoa có hai ngành đào tạo chính là: Sư phạm Lịch sử và Tổng hợp Lịch sử, với hai hệ đào tạo là chính quy và chuyên tu. Ngoài ra còn đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam.
Với đặc điểm đào tạo của Khoa Lịch sử là kết hợp giảng dạy lí thuyết với kỹ năng thực hành, những năm gần đây, Khoa đã đặc biệt chú ý đến việc tổ chức những đợt thực tập, thực tế cho sinh viên như là một khâu quan trọng trong quá trình đào tạo. Mục tiêu của Khoa là nhằm đào tạo những cử nhân sử học có phẩm chất chính trị tốt, trình độ chuyên môn vững vàng để có thể làm tốt công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử cũng như có thể làm việc ở các cơ quan văn hóa, thông tin, báo chí, các văn phòng cấp huyện, tỉnh và trung ương. Nên hàng ngàn sinh viên khoa Lịch sử tốt nghiệp, đang công tác khắp mọi miền đất nước, nhiều cựu sinh viên của Khoa đã làm việc có hiệu quả và nắm giữ những cương vị quan trọng tại các cơ quan Nhà nước.
2. Chiến lược phát triển
Nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội hịện nay, Khoa đã xác định hướng đào tạo theo chuyên ngành hẹp. Thời gian tới, Khoa sẽ xây dựng chương trình đào tạo theo các hướng: Lịch sử Việt Nam và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Lịch sử thế giới và Quan hệ quốc tế; Dân tộc học và Khảo cổ học, tuỳ theo sự lựa chọn của sinh viên có thể chọn cho mình ngành học yêu thích và phù hợp. Hiện nay, Khoa đang xúc tiến xây dựng chương trình đào tạo ngành Lưu trữ Lịch sử nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo cán bộ cho các tỉnh Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và cả nước.
Một trong những hướng ưu tiên cho sự phát triển cả về quy mô và chất lượng đào tạo của Khoa là mở rộng đào tạo sau đại học. Khoa sẽ chuẩn bị mọi điều kiện về nguồn nhân lực để đề nghị Nhà trường và Bộ cho phép mở các ngành đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử thế giới và Quan hệ quốc tế, Dân tộc học và khảo cổ học, đồng thời tiến tới mở ngành đào tạo tiến sĩ ngành Lịch sử Việt Nam.
Khoa đang là đầu mối trong việc vận động thành lập Hội Sử học Lâm Đồng, nhằm thu hút các nhà khoa học lịch sử trong và ngoài Tỉnh vào việc nghiên cứu khoa học phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của Tỉnh Lâm Đồng và nâng cao chất lượng đào tạo cùa Khoa. Trên cơ sở đó, Khoa sẽ tiến hành tổ chức các hội thảo, tọa đàm khoa học của sinh viên và cán bộ giảng dạy thường xuyên; tổ chức đăng ký và thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Tỉnh, Bộ và Nhà nước; phối hợp với Hội sử học Việt Nam, Hội sử học các tỉnh, Khoa Lịch sử các trường bạn và các tổ chức quốc tế để thực hiện các dự án nghiên cứu và triển khai các đề tài khoa học. Hướng nghiên cứu là tiếp cận các vấn đề khoa học và thực tiễn của địa phương và cả nước.
Khoa sẽ chú trọng tăng cường đội ngũ cán bộ cả về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng những mục tiêu đề ra. Với mục tiêu lấy người học làm trung tâm, Khoa Lịch sử tiến hành rà soát và tăng cường quản lý sinh viên theo hướng chú trọng vào hoạt động học thuật và rèn luyện.
Hơn 24 năm, một chặng đường đã đi qua với biết bao gian nan thử thách nhưng cũng có nhiều thành tích đáng tự hào, đủ để khẳng định uy tín khoa học, năng lực dạy và học của thầy trò Khoa Lịch sử qua các thế hệ. Nhìn về phía trước, bao thử thách đang chờ, những gì đã đạt được sẽ là tiền đề cho những bước phát triển tiếp theo, với những thành tích đã có, chúng ta tin chắc rằng Khoa Lịch sử sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu về đào tạo và nghiên cứu khoa học ngang tầm với các cơ sở đào tạo trong nước và quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
|